Novelorium

Đêm đốt bí tịch

Chương 1/6 · 1.576 chữ

Sư phụ vốn nổi tiếng thanh liêm đến mức đệ tử trong môn chỉ được ăn cháo loãng, vậy mà đêm qua tôi lại thấy ông lén đốt một cuốn bí tịch mang mùi máu tanh nồng.

Tôi đứng sau bụi trúc, hai tay bấu vào nhau đến mức móng tay in hằn lên da thịt. Lửa cháy nhỏ, ông ngồi xổm, từng trang giấy cong lại rồi quăn đi trong ánh lửa vàng vọt. Khói bốc lên mùi tanh nồng, không giống khói giấy thông thường, mà giống mùi sắt rỉ trộn lẫn với mùi tóc cháy.

Ba năm nay, tôi chưa từng thấy ông làm gì vào giờ này.

Đêm nào ông cũng ngồi trong tịnh thất, đọc sách, gõ mõ, đến canh ba mới tắt đèn. Vậy mà đêm nay, canh hai vừa điểm, ông đã lặng lẽ ra hậu sơn, tay ôm một cuốn sách bọc vải đen.

Tôi đi theo. Không phải vì tò mò.

Mà vì tôi đã quá quen với việc phải đề phòng.

…

Đến khi tôi nhìn vào cuốn bí tịch đó, trang đầu ghi: “Đồ nhi thứ 13, sinh thần không rõ, đã chết lúc 5 tuổi — nhục thân bảo tồn nguyên vẹn, chờ ngày đoạt xá”.

Nhưng đó là chuyện của sau này. Còn đêm nay, tôi vẫn chỉ là A Ninh, đồ nhi thứ mười ba của Thanh Phong đạo nhân, người mà cả tông môn đều bảo là “phúc khí lớn lắm mới được ông nhận làm đệ tử”.

Phúc khí.

Ba năm trước, ông nhặt tôi từ một đống tro tàn bên ngoài sơn môn. Tôi không nhớ gì trước đó. Ông bảo tôi mồ côi, bảo tôi yếu mệnh, bảo muốn sống thì phải tu theo công pháp ông truyền.

Công pháp đó tên là Huyền Âm Tử Khí Quyết.

Mỗi ngày, tôi phải hút một luồng tử khí từ nghĩa địa sau núi vào đan điền. Ông nói tử khí dưỡng âm, âm dưỡng mệnh, người như tôi phải sống nhờ âm khí mới giữ được mạng.

Nhưng tôi để ý một chuyện.

Mỗi lần hút tử khí xong, tay chân tôi lạnh ngắt, người mệt lả, có hôm còn ngất đi. Còn ông thì… trẻ ra.

Da ông hồng hào hơn, tóc đen hơn, mắt sáng hơn.

Tôi bắt đầu sợ.

Nên tôi lén đổi.

Tôi không hút tử khí nữa. Tôi hút sinh khí từ cây cỏ quanh núi. Sinh khí ấm, đi vào đan điền thì dễ chịu, không làm tôi ngất.

Ông không biết. Hoặc ông biết mà không nói.

Ba năm, tôi nhặt lá rụng.

Ông bảo nhặt lá là để “tĩnh tâm”, để “rèn tính kiên nhẫn”. Mỗi sáng tôi phải nhặt đủ một giỏ lá khô đem về, thiếu một chiếc là bị phạt quỳ trước từ đường đến hết đêm.

Ba năm, chổi lá trong sân chưa từng do tay người khác cầm.

Trong khi đó, ông dùng linh thạch mua rượu quý. Tôi đếm được. Tháng nào cũng có một gã đạo sĩ lạ mặt ghé sơn môn, đổi cho ông hai bình rượu, ông trả ba triệu đồng.

Ba triệu đồng.

Đủ cho tôi ăn no ba tháng. Nhưng tôi ăn cháo loãng. Cháo nấu bằng gạo cũ, mỗi bát có đúng ba hạt đậu.

Mỗi ngày, ông lấy ba giọt máu tim của tôi.

Ông bảo đó là “nghi thức dưỡng mệnh”, bảo máu tim tôi có âm khí đặc biệt, phải lấy đều đặn mới giữ được mạng cho tôi. Ông dùng một cây kim bạc nhỏ, chích vào giữa ngực tôi, hứng máu vào một chiếc bát ngọc vỡ vụn.

Tôi đau. Nhưng tôi quen rồi.

Sau này tôi mới biết, ba giọt máu tim đó, ông bán cho tà tu bên ngoài với giá ba mươi triệu đồng một giọt.

Ba năm. Ba giọt một ngày. Ba mươi triệu đồng một giọt.

Tôi không giỏi tính toán, nhưng tôi cũng đủ hiểu mình đáng giá bao nhiêu.

Mỗi tối, ông đưa tôi một bát thuốc.

“Uống đi, bổ khí.”

Thuốc có màu nâu đục, mùi khét, uống vào thì buồn ngủ. Tôi uống xong là ngủ li bì, đến sáng mới tỉnh. Có lần tôi giả vờ ngủ, nghe ông lẩm bẩm với Bạch Tuyết sư tỷ: “Phải cho nó ngủ say mới lấy máu được, không thì nó giãy”.

Tro cốt. Trong bát thuốc có tro cốt.

Tôi không dám nghĩ đến chuyện đó nữa.

Cũng có một chuyện khác.

Ông dặn tôi không được uống nước giếng sau vườn. Ông bảo giếng đó là để ông luyện đan, nước có độc, uống vào sẽ hỏng đan điền. Tôi phải đi bộ nửa dặm xuống suối dưới chân núi để lấy nước.

Một hôm tôi lén múc một gáo nước giếng lên ngửi.

Nước trong veo. Thơm.

Tôi không uống. Nhưng tôi hiểu ra một chuyện.

Ông không sợ tôi uống nước độc. Ông sợ tôi uống nước sạch.

…

Đêm nay, tôi nằm trên chiếu rơm trong căn phòng gỗ sau núi, mắt nhắm nhưng tai mở.

Canh hai, tôi nghe tiếng cửa tịnh thất mở. Rồi tiếng bước chân. Rất nhẹ. Nhưng tôi đã quen với nhịp bước của ông.

Tôi ngồi dậy, đi chân đất, bám theo bóng ông.

Ông đi về phía hậu sơn. Tay ôm một cuốn sách bọ vải đen, kẹp dưới nách.

Tôi nấp sau bụi trúc.

Và tôi thấy ông ngồi xuống, mở cuốn sách ra, châm lửa.

Từng trang cháy. Khói bốc lên mùi tanh.

Tôi không hiểu tại sao mình lại liều lĩnh như vậy. Nhưng tôi bò ra khỏi bụi trúc, lăn người xuống đất, chui vào đám cỏ ướt, tiến sát lại sau lưng ông.

Một mảnh giấy cháy dở bị gió thổi bay. Tôi chụp lấy. Nóng. Bỏng rát lòng bàn tay.

Tôi không kêu thành tiếng.

Tôi bóp chặt mảnh giấy trong tay, lùi lại, lăn người trở về bụi trúc.

Ông vẫn ngồi đó, nhìn lửa cháy cho đến khi cuốn sách chỉ còn tro.

Rồi ông đứng dậy, dùng chân dẫm nát đống tro, phủi tay, quay người đi về.

Tôi nằm im trong bụi trúc, nín thở.

Ông đi ngang qua chỗ tôi. Cách chưa đầy ba bước chân.

Ông dừng lại.

Tôi nghe tim mình đập thình thịch trong tai. Mảnh giấy trong tay tôi vẫn còn ấm, nóng rát, như đang đốt cháy da thịt.

Ông cúi xuống.

Tôi nhắm mắt thật chặt.

“A Ninh?”

Giọng ông rất nhẹ. Không giận. Chỉ là một câu hỏi.

Tôi không trả lời. Tôi giữ hơi thở đều, chậm, như người đang ngủ say.

Ông đứng im một lúc. Rồi tôi nghe tiếng vải cọ vào nhau, tiếng tay áo ông phất qua bụi trúc.

Ông cúi sát hơn.

Mùi trà quý trên người ông thoảng qua mũi tôi. Mùi long nhãn sấy khô, mùi gỗ đàn hương, mùi thứ trà mà một bình đáng giá bằng cả tháng lương của mười người phàm.

“Ngủ say thế à.”

Ông thì thầm. Như đang nói với chính mình.

Rồi ông đi. Bước chân xa dần, nhẹ như mèo.

Tôi nằm im thêm rất lâu. Đến khi tiếng cửa tịnh thất khép lại, tôi mới dám mở mắt.

Trong bóng tối, tôi từ từ mở bàn tay ra.

Mảnh giấy cháy dở vẫn còn ấm. Nóng. Như vừa được rút ra khỏi lò than.

Tôi cúi xuống, nheo mắt, đọc từng chữ còn sót lại.

Nét chữ xiêu vẹo, run rẩy, như người viết đang sợ hãi điều gì đó.

“Đồ nhi thứ mười ba… sinh thần không rõ… đã chết lúc năm tuổi… nhục thân bảo tồn nguyên vẹn… chờ ngày đoạt xá.”

Tôi đọc đi đọc lại ba lần.

Mảnh giấy vẫn còn nóng hổi trong tay tôi.

Nhưng cơ thể tôi thì lạnh dần, từng chút một, từ lòng bàn tay lan ra cánh tay, rồi đến ngực, rồi đến chân.

Ba năm nay, tôi nhặt lá. Tôi ăn cháo loãng. Tôi bị lấy máu.

Ba năm nay, tôi tưởng mình đang sống.

Vậy mà trong cuốn bí tịch kia, ông đã viết từ lâu lắm rồi.

Tôi đã chết.

Tôi đã chết từ khi lên năm tuổi.

Và cái thân thể mà tôi đang mang, cái thân thể mà ông ngày ngày lấy máu, ngày ngày cho uống thuốc tro cốt, ngày ngày bắt nhặt lá để “tĩnh tâm” — cái thân thể đó chỉ là một cái xác đang được nuôi.

Để chờ.

Để chờ đến ngày ông bước vào.

Tôi cuộn mảnh giấy lại, nhét vào trong ngực áo, sát bên tim.

Mảnh giấy vẫn còn ấm.

Và dòng chữ “đã chết” cứ cháy trong đầu tôi, như một que sắt nung đỏ ai đó vừa ấn vào giữa trán.

Tôi nằm xuống, kéo chiếu rơm lên tận cổ.

Nhưng tôi biết mình sẽ không ngủ được.

Vì trong bóng tối kia, ở đâu đó sau cánh cửa gỗ, người đàn ông đã nuôi tôi ba năm đang ngồi trong tịnh thất, gõ mõ, đọc sách, chờ đợi.

Chờ đợi cái thân thể này đến ngày chín.

Và tôi thì vừa mới biết, cuộc đời mà tôi đang sống — từ đầu đến cuối — chưa từng là của tôi.

Canh tư, tôi vẫn còn thức.

Mảnh giấy trong ngực áo đã nguội.

Nhưng có một thứ trong tôi thì bắt đầu nóng lên.

‹ Chương trước Chương sau ›
Mục lục