Novelorium

Gia yến và lời tuyên bố

Chương 1/8 · 1.669 chữ

Tổ mẫu vốn là người thương ta nhất phủ, vậy mà trong buổi gia yến lại đập bàn tuyên bố:

“Vân Chi, con nhường vị trí chính thất cho Liễu Yên đi, nó hiền lành hơn con.”

Cả phủ im phăng phắc.

Ta đặt chén trà xuống, khẽ mỉm cười.

“Dạ, con nhượng.”

Mẹ chồng ta sững người. Nhị thiếu gia ngồi bên cạnh ta buông đũa, tiếng đũa rơi xuống mâm vang lên một tiếng khô gọn. Liễu Yên cúi mặt, hai tay siết chặt khăn tay, bờ vai run nhẹ như thể vừa chịu nỗi oan khuất.

Ta thừa hiểu cái run đó. Đó là cách nàng ta thể hiện sự đắc ý mỗi khi đạt được mục đích.

…

Đến khi phụ thân Liễu Yên đứng dậy tát nàng ta ngay giữa tiệc, ta mới biết đôi giày thêu mà ta nhặt được dưới gầm giường của nhị thiếu gia chính là vật chứng duy nhất khiến cả phủ phải lặng đi.

Nhưng chuyện đó cứ để sau hãy nói.

Trước mắt, ta còn phải uống cho hết bữa tiệc này.

1.

Gia yến hôm ấy là tiệc mừng thọ tổ mẫu tròn sáu mươi tuổi. Phủ Thượng thư mở ba gian chính sảnh, kê mười hai bàn, mời hết thân thích hai họ. Ta ngồi ở bàn chính, bên cạnh là tổ mẫu. Chỗ đó vốn là vị trí của chính thất đương nhiệm, ta đã ngồi ở đó suốt bốn năm qua.

Bốn năm, ta chép tay bốn trăm hai mươi cuốn kinh cầu an cho mẹ chồng, tự tay pha trà mỗi sáng, và tự tay may áo lót mùa đông cho nhị thiếu gia bởi chàng ghét thợ may ngoài phố khâu đường chỉ thô.

Đổi lại, ta nhận lấy câu nói ấy trước mặt sáu mươi con người:

“Nó hiền lành hơn con.”

Ta nhìn quanh mâm. Cỗ thọ hôm ấy có yến sào, có gà hầm thuốc bắc, và một đĩa bánh quế hoa đặt ngay trước mặt Liễu Yên. Nàng ta bưng đĩa bánh lên, mỉm cười với bà con:

“Thưa tổ mẫu, bánh này là của ngự thiện phòng làm riêng cho tổ mẫu, con phải chạy qua ba phố mới mua được ạ.”

Ta suýt chút nữa đã bật cười thành tiếng.

Bánh quế hoa ấy là loại rẻ nhất phố Đông, giá chỉ ba đồng một chiếc, vốn là loại ta mua cho nha hoàn ăn sáng mỗi ngày. Ngự thiện phòng gì mà lại đựng trong giấy dầu thô, mép còn dính vụn đường cháy.

Đã vậy, sáng nay ta còn bắt gặp con nha hoàn thân tín của nàng ta lén vào bếp phủ, đổ đĩa bánh cũ của phủ ra sau vườn. Việc đổ đi là để so bì, nhằm làm cho bánh nàng ta mang đến trông mới hơn.

Mà thôi.

Ta cầm chén rượu, đứng dậy, cúi đầu với tổ mẫu.

“Con cảm ơn mẹ đã thương con mà nói thẳng. Vị trí chính thất này con giữ bốn năm, cũng đã mệt rồi. Nay có biểu muội hiền lành đến đỡ đần, con cầu còn không được.”

Rượu trong chén ta khẽ sóng sánh. Không phải vì run, mà vì ta vừa cười hơi mạnh tay.

Mặt tổ mẫu giãn ra, nhưng là cái vẻ mặt của người không hiểu chuyện gì vừa xảy ra. Bà ta tưởng ta sẽ khóc, tưởng ta sẽ quỳ xuống. Ta nhớ năm ngoái, khi bà bắt ta nhường phòng chính cho Liễu Yên, ta đã quỳ thật. Quỳ ba khắc ngoài sân đến mức đầu gối tím bầm, bởi nhị thiếu gia đứng bên cạnh nói: “Nàng nghe lời mẹ đi.”

Năm nay, ta không quỳ nữa.

“Nhưng thưa mẹ,” ta tiếp lời, giọng vẫn nhẹ nhàng, “con có một thỉnh cầu nhỏ. Tiệc hôm nay mời đủ hai họ, chi bằng để phụ thân biểu muội đến dự luôn cho đủ mặt. Con xin phép dọn một bàn riêng, coi như lễ nhận thân.”

Tổ mẫu gật đầu, chắc bụng ta đang muốn làm thân với nhà Liễu Yên để giữ thể diện. Bà không hề hay biết ta đã cho người đi mời phụ thân của nàng ta từ ba ngày trước.

Ta ngồi xuống. Nhị thiếu gia quay sang, giọng thấp xuống:

“Nàng… thật lòng đồng ý?”

Ta rót thêm rượu cho chàng.

“Thật lòng.”

Ta nhìn chàng uống cạn chén ấy. Chàng không biết chén rượu đó ta đã đổi từ sớm thành loại nhạt nhất trong hầm, để chàng giữ được sự tỉnh táo mà nghe hết mọi chuyện đêm nay.

2.

Liễu Yên đứng dậy, khăn tay vẫn siết chặt trong tay.

“Tỷ tỷ, muội… muội không dám nhận. Muội nào có xứng.”

Nàng ta nói câu ấy với đôi mắt nhìn xuống, cổ hơi ngước lên, đúng là tư thế mà ta đã thấy nàng tập trước gương ít nhất bảy lần. Ta biết rõ, vì phòng nàng ta sát phòng ta, chỉ cách một bức vách mỏng, và nàng tập khuya đến mức nha hoàn phải nhắc: “Tiểu thư, khuya rồi ạ.”

“Muội xứng chứ,” ta đáp. “Muội chăm chỉ hơn ta nhiều. Ta mỗi sáng phải dậy sớm pha trà, tối đến còn phải tính toán sổ sách chi tiêu trong phủ. Còn muội, muội thêu giỏi, khéo tay, lại biết đau đầu đúng lúc.”

Có tiếng cười khẽ vang lên từ bàn dưới. Liễu Yên đỏ mặt. Nàng ta thực sự rất hay đau đầu, mỗi lần tổ mẫu bảo chép kinh là sẽ đau đầu. Ba năm ở phủ, nàng chưa từng chép nổi một cuốn nào. Nhưng thức trắng đêm để thêu túi thơm thì lại rất giỏi, thêu liền bảy cái, cái nào cũng thêu chữ “Yên” nhỏ xíu ở góc trong, rồi dúi vào tay nhị thiếu gia mỗi sáng.

Ta từng hỏi chàng: “Sao chàng không đeo túi thơm ta thêu?”

Chàng đáp: “Túi nàng thêu chữ tốt quá, ta đeo ra ngoài người ta cười.”

Thêu chữ tốt quá. Đến giờ ta vẫn nhớ rõ câu ấy.

“Biểu muội,” ta nói, giọng vẫn dịu dàng, “muội ngồi đi. Đêm nay còn dài.”

Nàng ta ngồi xuống. Bàn tay đặt trên đùi, ngón út khẽ gõ, gõ ba cái, dừng, rồi lại gõ ba cái. Đó là ám hiệu. Ta đã nghe đủ nhiều đêm để biết nó nghĩa là gì: “Yên tâm, xong rồi.”

Nàng ta tưởng rằng mọi chuyện đã kết thúc.

3.

Ta ra hiệu cho Xuân Đào, nha hoàn thân tín của mình, đứng hầu sau lưng. Con bé cúi sát tai ta.

“Đi kiểm tra viện nhị thiếu gia,” ta nói, chỉ đủ hai người nghe. “Từ gầm giường trở ra. Đừng để ai phát hiện.”

Con bé lẩn vào sau rèm.

Ta ngồi lại, nâng chén. Phía trên, tổ mẫu đang kể chuyện vui với mấy bà thím, giọng bà ta hào sảng, kể về thời trẻ bà một tay quán xuyến cả phủ, đàn ông trong nhà chẳng bao giờ phải bận tâm chuyện bếp núc. Liễu Yên ngồi cạnh, gật gù, thỉnh thoảng lại “dạ” một tiếng thật lớn để bà nghe thấy.

Ta nhìn hai người họ, tự nhiên thấy buồn cười.

Mẹ chồng ta không biết một chuyện: bốn năm qua, sổ chi tiêu trong phủ do ta nắm giữ. Ta biết từng đồng bạc đi đâu. Ta biết tháng trước Liễu Yên mua một đôi giày thêu lụa, giá trị bằng ba tháng tiền tiêu vặt của nàng ta, nhưng sổ lại ghi là “mua chỉ khâu”. Ta biết đôi giày ấy thêu hoa văn gì. Ta còn biết cả tên của viện thêu ở gót giày.

Bởi vì ta chính là người đặt thêu.

Ta đặt may đôi giày đó, đưa cho nha hoàn của Liễu Yên và bảo đó là quà của nhị thiếu gia gửi tặng. Nàng ta nhận lấy, không mảy may hỏi han.

Một kẻ đầy toan tính như nàng ta mà lại không hỏi lấy một câu. Bởi vì nàng ta tin chắc nhị thiếu gia yêu thương mình. Tin đến mức không cần kiểm chứng.

Đó chính là cái bẫy mà ta đặt sẵn.

Ngoài sân, đèn lồng đã thắp sáng. Tiệc còn dài, rượu vẫn còn rót. Ta ngồi yên, tay áo buông phẳng, gương mặt rạng rỡ như đang dự tiệc vui nhất đời.

Mà đúng là vui nhất đời thật.

Khoảng hai tuần trà sau, rèm sau lưng ta khẽ động. Xuân Đào trở về, thở hơi gấp, tay áo dính chút bụi.

Con bé cúi sát, giọng run vì vừa chạy nhanh:

“Thưa phu nhân… con đã lục dưới gầm giường nhị thiếu gia. Có một đôi giày thêu lụa, gói trong khăn tay, giấu sâu phía trong.”

Ta không quay đầu lại.

“Thêu gì?”

Con bé khựng lại một nhịp, như sợ chính mình nghe nhầm.

“Thêu hoa văn giống hệt đôi giày biểu muội đang mang, thưa phu nhân. Mà ở gót giày… có thêu tên viện của nhị thiếu gia. Thêu bằng chỉ đỏ, thêu nổi, ai cầm lên cũng thấy rõ.”

Ta đặt chén xuống, chậm rãi, không một tiếng động.

Bên kia mâm, Liễu Yên đang cười với tổ mẫu, hai má ửng hồng, đôi chân giấu dưới váy đang mang đôi giày thêu lụa mới tinh.

Ta vuốt phẳng vạt áo.

“Xuân Đào,” ta nói, giọng nhẹ như đang dặn dò chuyện chợ búa. “Đi mời phụ thân biểu muội vào, bảo là có chuyện gấp về đôi giày của con gái ông ta.”

Con bé chạy đi.

Ta ngồi lại giữa tiệc, giữa sáu mươi con người đang cười nói, và chờ đợi.

Đôi giày ấy, ta đã đặt thêu bằng chỉ đỏ. Chỉ đỏ là loại chỉ duy nhất trong phủ này không ai dùng, trừ ta, vì màu ấy tiêu tốn gấp đôi chỉ thường.

Đêm nay, cả phủ sẽ biết ai mới là người tiêu hoang.

‹ Chương trước Chương sau ›
Mục lục