Novelorium

Con quạ báo tang

Chương 1/11 · 1.467 chữ

Ông tổ trưởng vốn nổi tiếng keo kiệt đến mức đi mua bao cát phòng lũ cũng chọn loại rẻ nhất ngoài chợ, vậy mà sau trận lũ, ông ta lại là người đầu tiên đứng giữa xóm, tay cầm loa pin, tuyên bố sẽ "đề nghị chia đất giúp hộ khó khăn".

Trong danh sách hộ khó khăn đó, có nhà tôi.

Cả xóm vỗ tay. Có người còn reo lên.

Riêng tôi đứng im, hai tay đút túi áo mưa, nghe trong lồng ngực một cơn lạnh chạy dọc xuống gót chân.

Tôi biết cái giá của những tràng vỗ tay này.

Ba ngày trước khi nước lũ về, tôi tình cờ thấy cuốn biên bản họp tổ dân phố để quên trên ghế đá. Lật ra, tôi thấy tên mình nằm trong danh sách "hộ không ưu tiên sơ tán", còn chữ ký của ông tổ trưởng đã được ký sẵn từ hôm trước.

Chuyện đó, tôi chưa nói với một ai.

Và rồi đúng năm giờ sáng ngày thứ Bảy, điện thoại tôi rung lên. Giọng bà Lựu lọt qua ống nghe, khàn đặc như người bị bóp cổ: "Con Ngọc ơi… mày lên đình làng đi. Người ta đang lôi tên mày ra mà chia đất đấy."

Tôi ngồi dậy. Ngoài cửa sổ, nước sông còn đục ngầu, men theo chân đê mà chảy.

"Chia đất gì cơ ạ?"

"Thì đất của mẹ mày. Đất nhà mày. Mày không lên là mất đấy."

…

Sự thật là cuộc họp đã bắt đầu từ lúc bốn giờ rưỡi.

Tôi đến đình làng lúc năm giờ kém mười, đã thấy ông Hùng đứng trên bậc thềm, áo sơ mi trắng sơ vin gọn gàng, tóc chải ngược ra sau bóng loáng như vừa lau bằng dầu ăn. Trước mặt ông ta là chiếc loa pin nhựa đỏ đã sờn, mua từ đợt chống bão năm ngoái, loại rẻ nhất chợ, còn hộp pin thì ông ta ghi vào sổ là "chi phí không hóa đơn".

Dưới sân, chừng bốn mươi người ngồi kín mấy dãy ghế nhựa đỏ. Toàn người già và đàn bà. Đám thanh niên còn đi làm xa chưa về. Ông ta chọn giờ này đúng là khéo, người già đầu hôm còn chưa kịp ăn sáng thì đã phải ngồi đây nghe ông ta nói.

"Bà con," ông Hùng gõ nhẹ ngón tay lên micro, giọng ấm áp như người dẫn chương trình, "trận lũ vừa rồi là trận lũ lịch sử. Nước dâng bốn mét hai. Nhà cửa bà con mất mát, tôi đau lắm. Đau lắm."

Ông ta dừng lại, rút từ trong túi áo ra một tờ giấy, cái tờ giấy mà tôi biết thừa là in một mặt, mặt sau còn trắng để ông ta dùng lại cho lần họp sau.

"Nay tôi đề nghị thế này. Những hộ mất nhà, mất đất, mình bàn nhau lấy quỹ đất dọc bờ đê mà chia. Chia công bằng. Chia theo hộ. Không ai thiệt."

Dưới sân có tiếng xì xào. Bà cụ Tơ, mẹ tôi, ngồi ở dãy ghế cuối, hai tay ôm cái túi vải bạc màu, mắt nhìn lên bậc thềm. Nhà tôi mất trắng sau lũ, đến cái nồi cơm cũng trôi. Mẹ tôi giờ ở nhờ nhà bà Lựu, ngủ trên cái chõng tre ngoài hiên.

"Ông Hùng ơi," một bà cụ ở dãy đầu giơ tay, "thế chia đất ấy, ai được chia hả ông?"

"Thì hộ khó khăn nhất, bà ạ. Hộ mất nhà. Hộ không còn chỗ chui ra chui vào."

Ông ta nói câu đó mà mắt không hề nhìn về phía mẹ tôi.

Tôi đứng tựa cột đình, phía sau mấy dãy ghế, nghe từng chữ. Bà Lựu ngồi ngay dãy nhì, tay phe phẩy chiếc quạt giấy, quay sang tôi, giọng đủ nhỏ để chỉ mình tôi nghe thấy:

"Con Ngọc này. Tao nói thật với mày, cả xóm người ta bảo nhau hết rồi. Con quạ báo tang."

Tôi nhìn bà ta. Bà ta vẫn phe phảy quạt, mắt nhìn lên bậc thềm, giọng đều đều như đang kể chuyện chợ:

"Mày thử nghĩ xem. Cả xóm này ai cũng lo làm ăn, ai cũng biết điều. Có mình mày, trước lũ cứ lẽo đẽo hỏi ông Hùng về danh sách sơ tán. Hỏi mãi. Hỏi đến lúc ông ấy phải quát lên. Xong cái gì đến thì đến. Nước về. Nhà mày mất. Người ta bảo tại mày hỏi nhiều quá, động đến ông thần sông."

Tôi không nói gì.

Bà ta quạt thêm hai cái, rồi ghé sát hơn: "Tao nói thật với mày thế thôi. Chứ tao với mày có thù oán gì đâu."

Ba ngày trước, cũng chính cái giọng "tôi nói thật với cô" ấy, bà ta rỉ tai tôi rằng ông Hùng thương mẹ tôi lắm, nhất định sẽ lo cho mẹ tôi một suất đất đẹp.

Tôi vẫn nhớ cái buổi chiều tôi nhặt được cuốn biên bản họp tổ dân phố ấy.

Nước vừa rút, bùn còn non, mùi phù sa tanh tanh bốc lên từ mặt đường. Tôi ra ghế đá đầu xóm ngồi, chờ mẹ tôi đi nhận mì tôm cứu trợ. Trên ghế có một cuốn biên bản họp tổ dân phố bìa xanh, dày độ bốn mươi tám trang, mép giấy quăn quăn như bị ẩm. Tôi tưởng của ai đánh rơi, nhặt lên định xem có tên để trả.

Trang đầu tiên ghi: "Biên bản họp tổ dân phải Đồng Bèo 3 — ngày 12 tháng 10". Tức là họp trước khi lũ về đúng một ngày.

Tôi lật. Trang mười hai có chữ ký ông Hùng, mực xanh, nét chữ nghiêng nghiêng như người vừa ký vừa nghĩ chuyện khác. Tôi lật tiếp. Đến trang hai mươi thì tay tôi dừng lại.

Mục "Hộ không ưu tiên sơ tán". Dòng thứ tư, viết tay: "Hộ Ngọc — bà Tơ, thôn Đồng Beo 3."

Chữ ký ông Hùng nằm ngay bên dưới, cùng cái nét nghiêng ấy, cùng cây bút ấy.

Tôi ngồi im trên ghế đá lâu đến mức mẹ tôi đi qua phải gọi hai lần. Gió chiều thổi, mấy trang giấy lật phật trong tay tôi như muốn tự đóng lại. Tôi đọc lại dòng chữ đó ba lần, từng chữ một, sợ mình nhìn nhầm. Không nhầm. Tên tôi nằm đó, bên dưới là chữ ký của người đã nói với cả xóm rằng "tôi lo cho bà con từng bữa ăn".

Tôi lật đến trang 48.

Đó là danh sách "hộ ưu tiên sơ tán". Chữ viết tay, cùng một thứ mực xanh. Tôi đọc từ trên xuống, đọc đến dòng thứ chín thì dừng hẳn.

"Hộ ông Hùng — thôn Đồng Bèo 3."

Rồi dòng thứ mười một.

"Hộ ông Hùng — thôn Đồng Bèo 3."

Hai lần. Cùng một cái tên. Cùng một nét chữ.

Còn nhà tôi thì không có. Không một dòng nào. Mẹ tôi, người đàn bà góa nuôi tôi từ năm tôi lên mười, không được xếp vào diện ưu tiên sơ tán.

Tôi ngồi đó, tay siết cuốn biên bản họp tổ dân phố đến mức gáy sổ kêu răng rắc. Rồi tôi làm một việc mà đến giờ tôi vẫn thấy mình đúng: tôi gấp cuốn biên bản họp tổ dân phố, nhét vào trong túi áo mưa, kéo khóa lại. Không nói với mẹ. Không nói với ai. Vì tôi biết, ở cái xóm này, ai nói trước thì người đó thua.

Tôi đợi. Đợi đến đúng cái ngày ông ta đứng trước cả xóm mà nói câu "chia đất giúp hộ khó khăn".

…

"Bà con thấy thế nào?" Ông Hùng giơ hai tay ra, giọng ngọt như mía lùi. "Ai có ý kiến gì thì cứ nói. Dân chủ mà. Tôi làm gì cũng vì bà con."

Dưới sân im phăng phắc. Mấy bà cụ nhìn nhau, không ai dám mở miệng trước.

Rồi ông ta quay đầu, chậm rãi, như thể đã biết trước tôi đứng ở đâu. Mắt ông ta dừng lại trên mặt tôi.

"Cô Ngọc," ông ta cười, cái cười tươi đến mức tôi thấy lạnh ở sống mũi, "cô là người trẻ, lại có học. Cô Ngọc chắc không ý kiến gì chứ?"

Cả sân quay lại nhìn tôi.

Bà Lựu bên cạnh khẽ huých tay tôi một cái, như nhắc: im đi.

Mẹ tôi ở dãy cuối, mặt tái đi, hai tay bấu chặt cái túi vải.

Tôi không trả lời.

Tôi chỉ đứng đó, nhìn thẳng vào ông ta, và siết chặt túi áo mưa bên hông, nơi cuốn biên bản họp tổ dân phố bìa xanh đang nằm im, còn nguyên nếp gấp của buổi chiều ba ngày trước.

‹ Chương trước Chương sau ›
Mục lục